Dưới đấy là lời giảng Quẻ đánh Trạch Tổn theo sách "Kinh dịch - Đạo của bạn quân tử" của học giả Nguyễn Hiến Lê


*

||:::| tô Trạch Tổn (損 sǔn)

Quẻ tô Trạch Tổn, đồ hình ||:::| còn gọi là quẻ Tổn (損 sun3), là quẻ thứ 41 trong ghê Dịch.

Bạn đang xem: Quẻ sơn trạch tổn

* Nội quái là ☱ (||: 兌 dui4) Đoài giỏi Đầm (澤).

* Ngoại quái là ☶ (::| 艮 gen4) Cấn tốt Núi (山).

Giải nghĩa: Thất dã. Tổn hại. Hao mất, thua trận thiệt, bớt kém, bớt phần dưới mang đến phần trên là tổn hại. Phòng nhân ám toán chi tượng: tượng đề phòng sự ngầm hại, hao tổn.

Khoan nới thì tất có điều sơ ý mà bị thiệt hại, vì vậy sau quẻ Giải tới quẻ Tổn. Tổn là thiệt hại mà cũng có nghĩa là giảm đi.

Thoán từ

損: 有孚, 元吉, 无咎, 可貞, 利有. 攸往.曷之用 ? 二簋可用享.

Tổn: Hữu phu, nguyên cát, vô cữu, khả trinh, lợi hữu.

Du vãng. Hạt chi dụng? Nhị quĩ khả dụng hưởng.

Dịch: Giảm đi: nếu chí thành thì rất tốt, ko có lỗi, giữ vững được như vậy thì làm việc gì cũng có lợi. Nên dùng cách nào? (ví dụ) dùng hai cái bình (hay bát) đồ cúng thôi để dâng lên, cũng được.

Giảng: Quẻ này nguyên là quẻ Thái, bớt ở nội quái Càn hào dương thứ 3 chuyển lên thêm vào hào cuối cùng của quẻ Khôn ở trên, phải gọi là Tốn: bớt đi.

Lại có thể hiểu: khoét đất ở dưới (quẻ Đoài) đắp lên trên cao đến thành núi, chằm càng sâu, núi càng cao, càng ko vững phải đổ, bắt buộc gọi là Tổn (thiệt hại).

Giảm đi, không nhất định là tốt tốt xấu. Còn tùy mình có chí thành, ko lầm lỡ thì mới tốt. Ví dụ việc cúng tế, cần lòng chí thành trước hết, còn đồ cúng không quan trọng, dù đạm bạc mà tâm thành thì cũng cảm được quỉ thần. Giảm đi như vậy để tiết kiệm, thì không có lỗi.

Đại tượng truyện thường đứng về phương diện tu thân, khuyên răn người quân tử yêu cầu giảm lòng giận và lòng dục đi ( quân tử dĩ trừng phẫn, trất dục).

Hào từ

1. 初九: 已事遄往, 无咎, 酌損之.

Sơ cửu: Dĩ sự thuyên vãng, vô cữu, chước tổn chi.

Dịch: Hào 1, dương: nghỉ việc của mình mà tiến lên gấp, giúp (cho hào 4) như vậy thì không có lỗi, nhưng đề nghị châm chước cái gì đề xuất rút bớt của mình để giúp cho 4 thì hãy rút.

Giảng: hào 1 dương cương, ứng với hào 4 âm nhu ở trên, theo nghĩa thì đề nghị giúp ích cho 4, mà lại cũng dừng đề nghị để thiệt hại đến mình quá; như vậy là cũng hợp chí với người bên trên ở thời Tổn (rút bớt).

2. 九二: 利貞, 征凶, 弗損益之.

Cửu nhị: lợi trinh, chính hung, phất tổn ích chi.

Dịch: Hào 2, dương: giữ đạo chính thì lợi, nếu vội tiến tức thì (bỏ đức cương cứng trung của mình), để chiều bạn thì xấu; đừng làm tổn hại đức của mình cũng là ích mang đến bạn đấy.

Giảng : quẻ này có nghĩa tổn dương cưng cửng (quẻ Càn ở dưới) để làm ích mang lại âm nhu (quẻ Khôn ở trên); vì thế hào này là dương cương, bắt buộc giúp ích đến hào 5 âm nhu, cũng như hào 1 giúp ích cho hào 4. Mà lại hào 5 bất chính (âm mà ở vị dương), tốt đòi hỏi những điều bất chính, nếu hào 2 bỏ đức cương cứng và trung của mình đi mà vội vàng chiều lòng 5 thì sẽ xấu; phải giữ đức cương trung đó mới lợi (lợi trinh). Không làm tổn hại đức cương cứng trung của mình, cũng là một cách khuyên răn hào 5 phải bỏ tính bất chính đi, như vậy là giúp ích mang đến 5 đấy.

3. 六三: 三人行則損一人, 一人行則得其友.

Lục tam: tam nhân hành tắc tổn nhất nhân,

nhất nhân hành tắc đắc kì hữu.

Dịch: Hào 3, âm: ba người đi thì bớt một người, một người đi thì được thêm bạn.

Giảng: Theo tượng của quẻ, nội quái Càn có tía hào dương bớt đi một để đưa lên trên; ngoại quái Khôn có bố hào âm, bớt đi một để gửi xuống dưới, thành quẻ trùng tổn. Hào 3 dương đi lên, hào trên cùng âm xuống dưới, tương đắc với nhau, thế là mặc dù tách ra, đi một mình mà hoá ra có bạn.

Xét trong vũ trụ thì một dương một âm là đủ, nếu thêm một âm giỏi một dương nữa, thành bố thì thừa; mà nếu chỉ có một âm xuất xắc một dương thì thiếu, phải thêm một dương giỏi một nữa mới đủ.

Việc người cũng vậy, nhì người thành một cặp, thêm một người thì dễ sinh chuyện, mà nếu chỉ có một người thôi thì lẻ loi quá, phải kiếm thêm bạn (coi Hệ từ hạ truyện, Ch. V số 13).

4. 六四: 損其疾, 使遄, 有喜, 无咎.

Lục tứ: tổn kì tật, sử thuyên, hữu hỉ, vô cữu.

Dịch: Hào 4, âm: làm bớt cái tật (âm nhu) của mình mang đến mau hết, đáng mừng, ko có lỗi.

Giảng: Hào này có tật âm nhu, được hào 1 dương cương cứng sửa tật đó cho mau hết, tốt.

5. 六五: 或益之十朋之龜, 弗克違, 元吉.

Lục ngũ: Hoặc ích chi thập bằng chi quí, phất khắc vi, nguyên cát.

Dịch: Hào 5, âm: thình lình có người làm ích mang lại mình, một bé rùa lớn đáng giá mười “bằng”, không từ chối được, rất tốt.

Giảng: Hào này ở vị tối cao, nhu mà đắc trung, được hào 2 dương tận tình giúp ích cho, như mang lại mình một con rùa rất lớn. Sở dĩ vậy là vì hào này, đắc trung mà hiền (nhu) đề xuất được lòng người, cũng như được trời giúp mang lại vậy (tự thượng hữu chí – lời Tiểu tượng truyện).

Chữ “bằng” mỗi nhà hiểu một cách: có người mang lại hai nhỏ rùa là một bằng; có người mang lại mười bằng là chu vị lớn tới 2.160 thước, có người bảo mỗi bằng là 10 “bối” <貝> (vỏ sò, nghêu quí, hồi xưa dùng làm tiền, khi chưa có lụa, đồng) 10 hằng tức là 100 bối. Không biết thuyết nào đúng. Chúng ta chỉ yêu cầu hiểu con rùa 10 bằng là một vật rất quí thôi.

6. 上九: 弗損益之, 无咎.貞吉.利有攸往, 得臣无家.

Thượng cửu: phất tổn ích chi, trinh cát.

Lợi hữu du vãng, đắc thần vô gia .

Dịch: Hào trên cùng, dương: làm ích mang đến người mà chẳng tổn gì của mình, ko lỗi, chính đáng thì tốt, làm việc gì cũng vô lợi, vì được người qui phu, chẳng phải chi nhà mình mới là nhà (ý nói đâu cũng là nhà mình, ai cũng là người nhà mình)

Giảng: Hào này tối nghĩa, mỗi sách giảng một khác, chúng tôi châm chước theo Phan Bội Châu. Dương cương ở bên trên cùng quẻ tổn, phải đem cái cương của mình giúp cho nhiều hào âm nhu, chính đáng như vậy thì tốt, mà chẳng hại gì mang lại mình, vì mọi người sẽ quí mến, qui phụ mình. Có người hiểu là đừng làm hại, mà làm ích mang lại người thì tốt. Lẽ ấy dĩ nhiên rồi.

Xem thêm: Nhắc Lại Các Bài Văn Mẫu Về Nghị Luận Xã Hội Lớp 11, Các Bài Văn Mẫu Về Nghị Luận Xã Hội Lớp 11

***

Đại ý quẻ này là Tổn không chắc đã xấu, ích (tăng) không chắc đã tốt; còn tùy việc tùy thời, hễ quá thì yêu cầu tổn để được vừa phải, thiếu thì phải ích, và mình nên chịu thiệt hại mang lại mình mà giúp đến người .